
PV Agritalk: Thưa chuyên gia, Ninh Bình đặt mục tiêu “đến năm 2030 không còn đốt rác, rơm rạ tự phát”. Vì sao tỉnh lại nhấn mạnh cụm từ “tự phát” trong cam kết này?
Chuyên gia (quản lý môi trường nông nghiệp): Hai chữ “tự phát” chính là điểm mấu chốt của vấn đề. Thực tế cho thấy, việc đốt rơm rạ hiện nay thường diễn ra đồng loạt, mạnh ai nấy làm sau thu hoạch để giải phóng đất nhanh, khiến cơ quan chức năng rất khó giám sát về thời điểm, địa điểm và cường độ phát thải.
Khi địa phương đặt mục tiêu chấm dứt tình trạng “tự phát”, nghĩa là họ muốn chuyển từ việc thụ động chạy theo xử lý các vi phạm nhỏ lẻ sang chủ động quản trị hành vi cộng đồng, hướng tới thay đổi căn bản tập quán canh tác của người dân.
PV: Mục tiêu này được đặt trong bối cảnh nào, thưa ông/bà?
Chuyên gia: Đây không phải là một mục tiêu riêng lẻ của địa phương. Nó được đặt trong “kế hoạch triển khai thực hiện hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng không khí”. Bối cảnh này rất quan trọng, vì khi đã gắn vào một chương trình cấp quốc gia, địa phương sẽ có cơ sở pháp lý vững chắc để huy động nguồn lực, phối hợp liên ngành và đặc biệt là có một “khung” chuẩn để đo lường tiến độ thực hiện từ nay đến năm 2030.
PV: Vậy mốc thời gian năm 2030 có ý nghĩa gì về mặt triển khai thực tiễn?
Chuyên gia: 2030 là một mốc thời gian đủ dài và cần thiết để thực hiện một cuộc chuyển đổi về thói quen sản xuất. Rơm rạ là phụ phẩm có khối lượng rất lớn và phát sinh dồn dập theo mùa vụ. Muốn người dân “không đốt” thì bắt buộc phải có chuỗi giải pháp thay thế đồng bộ: từ thu gom, vận chuyển, chế biến đến tiêu thụ.
Những cơ sở hạ tầng và dịch vụ này không thể hoàn thiện chỉ trong một hai vụ mùa, mà cần vài năm để hình thành thị trường phụ phẩm. Đặt mốc 2030 chính là tạo ra một “đường băng” đủ dài để nông dân, Hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp cùng chuẩn bị và nhập cuộc.

PV: Khi siết chặt việc đốt rơm rạ, đối tượng nào sẽ chịu tác động trực tiếp nhất và những tác động đó là gì?
Chuyên gia: Nông dân chắc chắn là nhóm chịu tác động đầu tiên. Lâu nay, đốt rơm rạ là cách “dọn đồng” nhanh nhất, rẻ nhất và tiện nhất. Khi bị cấm đốt, họ đối mặt với áp lực phải tìm phương án thay thế mà không làm tăng chi phí quá mức hoặc gây chậm trễ lịch thời vụ gieo cấy tiếp theo.
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận đúng hướng, nông nghiệp lại là ngành hưởng lợi dài hạn. Rơm rạ không phải là rác, nó là nguồn hữu cơ quý giá. Nếu được xử lý đúng cách (ủ, cày vùi men vi sinh, làm thức ăn chăn nuôi, trồng nấm...), rơm rạ sẽ quay lại cải tạo đất, giúp nông dân giảm lệ thuộc vào phân bón hóa học.
PV: Vậy còn tác động xã hội nhìn thấy ngay là gì?
Chuyên gia: Lợi ích nhãn tiền nhất là giảm khói bụi cục bộ, cải thiện rõ rệt chất lượng không khí ở khu vực nông thôn và ven đô. Việc chấm dứt đốt rơm rạ tự phát sẽ xóa bỏ cảnh khói mù gây khó thở, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng và che khuất tầm nhìn giao thông vào mỗi buổi chiều tối hay sáng sớm mùa gặt.

PV: Nhiều địa phương từng vận động “không đốt rơm rạ” nhưng sau đó đâu lại vào đấy. Theo chuyên gia, Ninh Bình cần tránh "vết xe đổ" nào để đạt mục tiêu đề ra?
Chuyên gia: Cần tránh cách làm chỉ dựa vào tuyên truyền vận động suông hoặc các biện pháp hành chính, xử phạt. Phải hiểu rằng, đốt tự phát tồn tại dai dẳng vì nó giải quyết được 3 nhu cầu của nông dân: Nhanh – Rẻ – Tiện.
Muốn chấm dứt việc này, giải pháp thay thế cũng phải đáp ứng được các tiêu chí đó, hoặc ít nhất không làm nông dân bị "thiệt" hơn. Do đó, chìa khóa cốt lõi là phải xây dựng được mô hình kinh tế phụ phẩm: Phải có người thu gom chuyên nghiệp, có nơi tiêu thụ ổn định và có giá mua – dù nhỏ – để nông dân thấy rơm rạ có giá trị.
PV: Ông/bà đánh giá đâu là “đòn bẩy” khả thi nhất để kích hoạt mô hình này?
Chuyên gia: "Đòn bẩy" mạnh nhất là tổ chức sản xuất theo cụm và liên kết chuỗi. Cụ thể, HTX cần đứng ra làm dịch vụ thu gom rơm rạ cơ giới hóa, sau đó liên kết với các doanh nghiệp chế biến, trang trại chăn nuôi hoặc các cơ sở trồng nấm rơm quy mô lớn.
Khi có đầu ra ổn định, việc “không đốt” sẽ không còn là khẩu hiệu mà trở thành một bài toán kinh tế có lợi. Song song đó, cần chuẩn hóa các quy trình xử lý tại ruộng như cày vùi kết hợp chế phẩm sinh học cho những khu vực khó thu gom.

PV: Để đồng hành cùng mục tiêu này, nông dân nên bắt đầu từ đâu để vừa không đốt rơm rạ, vừa đảm bảo kịp thời vụ?
Chuyên gia: Bà con nông dân có thể thực hiện theo 3 bước đơn giản, ưu tiên các giải pháp dễ tiếp cận trước:
-
Khảo sát đầu ra: Nếu khu vực lân cận có các hộ chăn nuôi trâu bò hoặc cơ sở trồng nấm, hãy ưu tiên phương án bán hoặc cho rơm. Nếu không, hãy chọn phương án xử lý tại chỗ (cày vùi kết hợp chế phẩm).
-
Liên kết nhóm hộ: Vài hộ gia đình nên liên kết lại để cùng thuê máy cuộn rơm hoặc máy làm đất công suất lớn, giúp giảm chi phí so với làm lẻ tẻ.
-
Xử lý "nóng": Cần lên lịch xử lý ngay sau khi máy gặt xong. Rơm rạ để lâu dễ bị ẩm mốc, khó thu gom và gây cản trở cho việc làm đất vụ sau.
PV: Về phía chính quyền địa phương và các HTX tại Ninh Bình, họ cần chuẩn bị những gì ngay từ bây giờ?
Chuyên gia: Để hiện thực hóa mục tiêu 2030, địa phương cần hành động ngay:
-
Thứ nhất, xây dựng "bản đồ điểm nóng" về việc đốt rơm rạ theo mùa vụ để tập trung nguồn lực xử lý.
-
Thứ hai, có cơ chế hỗ trợ HTX đầu tư trang thiết bị cơ giới (máy cuốn, máy ép rơm) theo hình thức dùng chung.
-
Thứ ba, đóng vai trò "bà đỡ" kết nối các doanh nghiệp tiêu thụ phụ phẩm để tạo đầu ra bền vững, tránh tình trạng phong trào "đầu voi đuôi chuột".
-
Cuối cùng, công tác truyền thông cần chuyển hướng mạnh mẽ sang việc phân tích "lợi ích kinh tế từ rơm rạ", thay vì chỉ tập trung vào cấm đoán và tác hại môi trường.
PV: Xin cảm ơn chuyên gia về những chia sẻ rất thiết thực này!